Saturday, April 26, 2014

Ứng dụng ngũ hành vào việc chữa bệnh

1. Ngũ hành và Tạng phủ
- Nếu đem đồ hình Thái cực, áp dụng vào khuôn mặt, nhìn từ sau ra trước, ta thấy :
- Trán thuộc Tâm.
- Cằm thuộc Thận.
- Má bên trái thuộc Can.
- Má bên phải thuộc Phế.
- Mũi thuộc Tỳ (trung ương).
Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn bệnh.
Thí dụ : Nhìn thấy dấu hiệu báo bệnh ở vùng cằm có thể nghĩ đến bệnh lý ở thận, hoặc vùng trán có dấu hiệu báo bệnh có thể nghĩ đến rối loạn ở tâm...
- Nếu xếp đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy :
- Từ ngực trở lên thuộc Tâm.
- Từ thắt lưng xuống thuộc Thận.
- Nửa bên trái thuộc Can.
- Nửa bên phải thuộc Phế.
- Bụng thuộc Tỳ.
Sự phân chia này giúp rất nhiều, trong việc chẩn bệnh : Thí dụ :
- Có nhiều người chỉ cảm thấy lạnh nửa bên người hoặc nửa phần cơ thể như : bên phải lạnh, bên trái nóng hoặc trên nóng dưới lạnh...
- Những người liệt nửa bên trái, thường kèm theo đau nửa đầu, chảy nước mắt sống... (những biểu hiện của Can)... Liệt nửa phải thường kèm theo nói khó khăn, khó đi cầu (những biểu hiện của Phế, Đại trường)...
2. Về sinh lý :
a) Quan niệm cổ truyền :
Ứng dụng Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ hành, dựa vào đặc tính sinh lý của Ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành.
+ Can và Hành mộc : Tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của Can là 1 vị tướng, vì thế, dùng hành Mộc ví với can.
+ Tâm và Hành hỏa : Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng hành Hỏa ví với Tâm.
+ Tỳ và Hành thổ : Đất là mẹ đẻ của muôn vật giống là con người sinh tồn được là nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế, dùng Hành thổ ví với Tỳ.
+ Phế và Hành kim : Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người phát ra tiếng nói nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế.
+ Thận và Hành thủy : Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như nước uống vào, một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.
b) Quan điểm hiện đại :
Dựa theo công năng cơ thể, tìm sự tương ứng với hành nào đó trong Ngũ hành để giải thích sự biến chuyển của Ngũ hành.
- Hành Mộc và sự vận động : Đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở khắp cơ thể. (Cơ năng phát động).
- Hành Hỏa và sự phát nhiệt : Đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa của các tế bào. (Cơ phát nhiệt).
- Hành Thổ và sự bài tiết (Cơ năng bài tiết) : Đó là vận động đưa chất ra ngoài cơ thể.
- Hành Kim và sự hấp thụ (Cơ năng hấp thụ) : Đó là vận động thu hút các chất vào.
- Hành Thủy và sự tàng trữ (Cơ năng tàng trữ) : Đó là vận động tàng trữ các chất trong cơ thể để dùng khi cần thiết.
Giữa 2 quan niệm cổ điển và hiện đại, có 1 số điều khác biệt :
- Nếu đứng về quan niệm cổ điển , chỉ có 5 chức năng tương ứng : Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ, Phế Kim và Thận Thủy. Khi nói đến Can là phải nói đến Mộc, Tâm phải đi với Hỏa... Nếu nói Tâm Thủy hoặc Can Thủy... sẽ bị cho là sai hoặc không biết gì về Ngũ hành ! Nếu chỉ hiểu Can là Mộc, Tâm là Hỏa... sẽ khó có thể giải thích được các cơ chế sinh bệnh 1 cách toàn diện được.
Thí dụ : Cũng bệnh về Tỳ.
- Hỏa của Tỳ vượng gây nôn ra máu.
- Mộc của Tỳ vượng gây co thắt bao tử.
- Thủy của Tỳ suy gây tiêu chảy.
Nếu chỉ quy Tỳ vào hành Thổ thì khó có thể giải thích được các dấu hiệu gây bệnh do Mộc và Thủy... của Tỳ đã gây ra.
Như vậy, nếu xét một cách rộng hơn thì : Mỗi tạng phủ đều có Ngũ hành chi phối.
- Can Mộc, Can Hỏa, Can Thổ, Can Kim, Can Thủy.
- Tâm Hỏa, Tâm Thổ, Tâm Kim, Tâm Thủy, Tâm Mộc.
- Tỳ Thổ, Tỳ Kim, Tỳ Thủy, Tỳ Mộc, Tỳ Hỏa.
- Phế Kim, Phế Thủy, Phế Mộc, Phế Hỏa, Phế Thổ.
- Thận Thủy, Thận Mộc, Thận Hỏa, Thận Thổ, Thận Kim.
Người xưa, khi quy Mộc cho Can, Hỏa cho Tâm... là muốn nhấn mạnh rằng Mộc có liên hệ và chi phối Can nhiều hơn các tạng khác. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng Mộc không có liên hệ và chi phối các tạng phủ khác.
Hiểu được như vậy, sẽ rất có lợi trong việc điều trị, nhất là trong việc chọn huyệt châm cứu, kể cả dùng thuốc.
Thí dụ : Cũng 1 đường kinh Can, xét riêng về Ngũ du huyệt ta có : huyệt Đại Đôn (Can Mộc Huyệt), Hành gian (Can Hỏa), Thái xung (Can Thổ), Trung Phong (Can kim), Khúc Tuyền (Can thủy).
Các đường kinh khác cũng đều có 5 huyệt tương ứng với Ngũ hành, nhờ đó, giúp cho việc chọn huyệt thêm chính xác và hiệu quả hơn.
Thí dụ : Cũng bệnh về mắt :
- Mắt đau, nóng đỏ, biểu hiện Hỏa của Can vượng, phải tả Hỏa huyệt của Can là huyệt Hành gian.
- Mắt hay bị chảy nước sống là dấu hiệu Thủy của Can suy, cần bổ Thủy huyệt của Can là huyệt Khúc Tuyền.
- Mắt cận thị yếu kém là dấu hiệu Mộc của Can suy, cần bổ Mộc huyệt của Can là huyệt Đại Đôn.
Cũng bệnh về mắt mà ở 3 trường hợp chúng ta đã dùng 3 huyệt khác nhau dù cũng chỉ ở can Kinh. Nếu không hiểu rõ cụ thể sự rối loạn ở hành nào, bệnh gì cũng chỉ dùng có 1 huyệt duy nhất của kinh Can thì sẽ khó điều trị thành công.
Ngoài ra, đào sâu hơn ta thấy, mỗi hành đều có 2 mặt mâu thuẫn và thống nhất là âm dương, do đó, ta có : Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Hỏa, Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ, Âm kim, Dương Kim, Âm Thủy, Dương Thủy.
Việc phân biệt này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chọn huyệt để điều trị cho thích hợp.
3. Ngũ hành và chẩn bệnh
Căn cứ vào các triệu chứng xuất hiện qua Ngũ hành như : Ngũ sắc, Ngũ vị, Ngũ quan, Ngũ chí... để tìm ra tạng phủ tương ứng bệnh (Xin xem ở biểu đồ tổng quát của Ngũ hành, trang cuối của Ngũ hành).
Thí dụ : Bệnh ở mắt có liên quan đến Can vì Nội Kinh ghi : "Can khai khiếu ở mắt" hoặc bệnh ở Tai có liên hệ đến Thận vì Nội Kinh ghi :" Thận khai khiếu ở Tai"...
4. Ngũ hành và bệnh lý
Ứng dụng Ngũ hành vào bệnh lý, chủ yếu vận dụng quy luật Sinh Khắc, Tương Thừa, Tương Vũ, Phản sinh khắc, để giải thích các quan hệ bệnh lý khi 1 cơ quan, tạng phủ nào đó có sự xáo trộn gây ra mất thăng bằng : thái quá (hưng phấn) hoặc bất cập (ức chế).
Thí dụ : Giận dữ ảnh hưởng đến Can (Nội Kinh : Can chủ sự giận dữ), Can khí bùng lên, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của Tỳ vị (Can Mộc khắc Tỳ Thổ) sinh ra chứng bao tử đau, bao tử loét, gọi là chứng Can Khí Phạm Vị. Nguyên nhân chủ yếu tại Can vượng lên làm hại Tỳ chứ không phải do Tỳ tự suy yếu.
Ngoài ra, có thể dùng các biểu hiện của Ngũ hành để tìm ra sự xáo trộn ở các Hành, Tạng phủ, cơ quan.
Thí dụ : Đau trong xương, tiểu nhiều, lưng đau... có thể nghĩ đến Thận vì : Thận chủ xương, nước tiểu là dịch của Thận, vùng lưng thuộc Thận...
Tuy nhiên, cần lưu ý là sự thay đổi của 1 Hành, luôn luôn đưa tới sự thay đổi của cả 5 hành, nhất là trong các Hội chứng bệnh. Do đó, mối quan hệ giữa các hành không phải chỉ là giữa 2 - 3 hành mà luôn là mối quan hệ giữa 5 hành...
Mỗi hành khi có sự xáo trộn (Hưng phấn hoặc ức chế), có thể do 5 nguyên nhân :
Thí dụ : Hỏa vượng.
- Có thể do tự nó vượng lên, gọi là Chính Tà.
- Có thể do Mộc vượng làm Hỏa vượng (Mộc sinh Hỏa) tức là do tạng phủ sinh ra nó gây ra (bệnh từ Mẹ truyền sang con), gọi là Hư Tà.
- Có thể do Thổ vượng, phản sinh Hỏa, tức là do tạng phủ nó sinh ra, (bệnh từ con truyền sang mẹ) gọi là Thực tà.
- Có thể do Thủy suy, không khắc được Hỏa, tức là có tạng phủ khắc nó (quy luật Tương Vũ), gọi là Vi Tà.
- Có thể do Kim suy, không phản khắc được Hỏa, nhân cơ hội đó Hỏa bùng lên theo quy luật Tương Thừa, gọi là Tặc tà.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng :
Đối với 1 Hội chứng, gọi là Hỏa vượng, khi thấy có Mộc vượng, Thổ vượng, Kim suy và Thủy suy. Gọi là Thủy suy khi thấy có Mộc suy, Kim suy, Thổ vượng và Hỏa vượng... Các hành khác cũng lý luận tương tự như vậy.
5. Ngũ hành và châm cứu
Các kinh thư cổ đã áp dụng Ngũ hành vào 1 số huyệt vị nhất định là Tỉnh, Vinh (Huỳnh), Du, Kinh, Hợp, gọi là Ngũ du huyệt.
Sự sắp xếp thứ tự của Ngũ du không thay đổi nhưng thứ tự của Ngũ hành lại thay đổi tùy thuộc vào âm dương của đường kinh. Kinh âm khởi đầu bằng Mộc, kinh dương bắt đầu bằng Kim, sau đó cứ theo thứ tự Tương sinh mà sắp xếp huyệt.
Ngũ Du
Tỉnh
Vinh (Huỳnh)
Du
Kinh
Hợp
Kinh Âm
Mộc
Hỏa
Thổ
Kim
Thủy
Kinh Dương
Kim
Thủy
Mộc
Hỏa
Thổ
Nhận xét về cách phân chia của cổ điển ta thấy :
Nếu chỉ phân chia như trên, sẽ không đủ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn thống nhất là Âm Dương ngay trong mỗi hành. Ngay trong mỗi hành đều có Âm dương, do đó, mỗi huyệt của Ngũ du cũng đều có Âm dương. Vì vậy, cùng 1 huyệt, cùng 1 tên, 1 chức năng nhưng lại có 2 công dụng khác nhau : Dương Hỏa (hưng phấn Hỏa) và Âm hỏa (ức chế Hỏa)...
Thí dụ : Huyệt Ngư tế, tuy là Hỏa huyệt của phế kinh, nhưng cũng có thể là Phế âm Hỏa hoặc Phế dương Hỏa, tùy theo vị trí bên phải hoặc bên trái của huyệt.
Việc phân chia cụ thể theo Âm dương sẽ giúp rất nhiều trong việc xác định và chọn huyệt thích hợp trong điều trị.
Thí dụ : Người bệnh ho ra máu, chứng này do Hỏa của Phế vượng lên. Tuy nhiên :
- Trong trường hợp cấp tính, thực chứng, do Dương Hỏa vượng, cách chữa là Tả Dương Hỏa huyệt của Phế tức Tả huyệt Ngư tế bên trái.
- Trong trường hợp mãn tính, hư chứng, do Âm Hỏa suy, không ức chế được Dương Hỏa làm cho dương Hỏa bùng lên, cách chữa là phải bổ Âm hỏa huyệt của Phế là huyệt Ngư tế bên phải.
6. Ngũ hành và Dược liệu
Y học cổ truyền dùng Ngũ hành áp dụng vào việc sử dụng thuốc đối với bệnh tật của tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa Vị, Sắc... đối với tạng phủ. Đây là nền tảng của việc Quy Kinh.
Thí dụ : Vị chua, màu xanh vào Can
Vị cay, màu trắng vào phế...
Ngoài ra, trong việc bào chế, có thể vận dụng đặc tính của Ngũ hành để thay đổi hoặc tăng cường hiệu quả của thuốc.
Thí dụ : Tẩm thuốc với dấm (vị chua) để dẫn thuốc vào Can, Tẩm thuốc với Muối (vị mặn) để dẫn thuốc vào Thận...
Việc áp dụng màu sắc của Ngũ hành vào Dược liệu cũng đang được các nước ngoài quan tâm đến.
Theo Canadian Consumer Bộ y tế và phúc lợi xã hội Canada, đề ra chương trình dán nhãn vào các loại thực phẩm bán ở thị trường, căn cứ theo giá trị dinh dưỡng của các loại :
- Nhãn xanh đậm trên các sản phẩm sữa, chỉ rõ rằng các loại thực phẩm đó tốt cho xương và răng. (Xương và răng là biểu hiện của Thận, màu xanh đen là màu của Thận).
- Màu vàng dán vào bánh mì và các loại ngũ cốc chỉ rõ rằng những loại này là thức ăn cung cấp năng lượng (màu vàng là màu của Tỳ, Tỳ chủ tiêu hóa, sinh cơ nhục...).
- Màu xanh lục dán vào rau quả là bổ mắt (Can khai khiếu ở mắt, màu xanh là màu của Can).
- Màu đỏ dán vào cá và thịt chỉ rõ những loại này bổ máu và cơ (màu đỏ là màu của Tâm hỏa, Tâm chủ huyết - Cân cơ thuộc về Can, ở đây là Hỏa phản sinh Mộc).
7. Ngũ hành và điều trị
Trong việc điều trị, cần nắm vững quy luật Sinh Khắc của Ngũ hành thì việc trị liệu mới đạt được hiệu quả cao.
A.- Tương sinh
Cần nhớ nguyên tắc : "Hư bổ mẫu, Thực tả tử".
a) Hư bổ mẫu : Trong trường hợp Thổ sinh Kim thì Thổ là mẹ (mẫu) và Kim là con (Tử). Trong trường hợp bệnh mạn tính, hư chứng, Tạng phủ bị bệnh lâu ngày, không đủ sức tự phục hồi được, cần nhờ 1 nguồn cung cấp khác giúp nó phục hồi. Muốn thế, cách hay nhất là nhớ ngay chính cái sinh ra nó, tức bổ cho mẹ nó để mẹ nó giúp cho nó.
Thí dụ : Người bệnh Lao Phổi lâu ngày (Phế hư lao).
Trên nguyên tắc, bệnh ở Phế, Phế suy, sẽ được điều trị ở Phế, tức là bổ Phế, tuy nhiên vì bệnh lâu ngày, Phế kém chức năng, không đủ sức tự phục hồi, do đó, cần áp dụng nguyên tắc : "Hư bổ mẫu". Tỳ Thổ sinh Phế Kim, do đó phải bổ Tỳ Thổ. Thực tế lâm sàng cho thấy, trong việc điều trị lao phổi, ngoài việc dùng thuốc diệt trùng, ăn uống bồi dưỡng tốt sẽ giúp việc điều trị lao phổi phục hồi nhanh hơn. Đây là ý nghĩa mà người xưa thường đề cập đến : "Dĩ thổ sinh Kim".
Trong châm cứu có 2 cách áp dụng nguyên tắc Hư bổ mẫu :
- Có thể dùng ngay 1 đường kinh để bổ. Thí dụ, Phế Kim suy, có thể bổ huyệt Thái uyên vì Thái uyên là Thổ huyệt của Phế Kinh.
- Nếu dùng huyệt khác kinh thì Phế kinh suy, bổ ở kinh Tỳ vì Tỳ Thổ sinh Phế Kim.
Theo báo cáo nước ngoài, Dược sĩ Carlos Miyares Cao đại học tổng hợp La Habana (Cuba) từ năm 1971 đã chiết xuất từ Nhau thai nhi 1 chất có khả năng kích thích sự phát triển các tế bào sinh sắc tố của da tên là Melagenia để trị bệnh Bạch biến (vitiligo) còn gọi là Lang ben rất có hiệu quả. (Nhau thai nhi, thuộc thổ, bệnh ở da liên hệ đến Phế Kim, ở đây áp dụng nguyên tắc Thổ sinh Kim).
b) Thực Tả Tử
Theo nguyên tắc này, thay vì tả trực tiếp Tạng phủ hoặc kinh bệnh, thì lại điều trị ở Tạng phủ hoặc Kinh được nó sinh. Mộc sinh hỏa thì thay vì tả Mộc lại tả Hỏa.
Thí dụ : Chứng Cao Huyết Áp do Can Dương vượng.
Theo ngũ hành, Can Mộc sinh Tâm hỏa, khi điều trị, điều chỉnh ở Tâm (an thần).
Trong châm cứu, thay vì Tả Huyệt Đại Đôn (Mộc huyệt của can) lại Tả huyệt Hành gian (Hỏa huyệt của Can).
B.- Tương khắc
Dùng quy luật tương khắc để điều chỉnh rối loạn giữa các hành.
Thí dụ : Người bệnh xuất huyết.
Huyết màu đỏ thuộc Hỏa, có thể dùng những vị thuốc màu đen (hoặc sao cháy thành than) như Cỏ mực, Trắc bá... để chữa, vì màu đen thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa.
BẢNG TÓM TẮT ĐIỀU TRỊ BẰNG NGŨ HÀNH
Tạng Phủ
Bổ, Hư Bổ Mẫu
Lý Do
Tả, Thực Tả Tử
Lý Do
Can Mộc
Thận Thủy
Thủy sinh Mộc
Tâm Hỏa
Mộc sinh Hỏa
Tâm Hỏa
Can Mộc
Mộc sinh Hỏa
Tỳ Thổ
Hỏa sinh Thổ
Tỳ Thổ
Tâm Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Phế Kim
Thổ sinh Kim
Phế Kim
Tỳ Thổ
Thổ sinh Kim
Thận Thủy
Kim sinh Thủy
Thận Thủy
Phế Kim
Kim sinh Thủy
Can Mộc
Thủy sinh Mộc
7. Ngũ Hành và Phòng Bệnh
- Dựa vào Ngũ hành vận khí để biết được đặc điểm của bệnh tật từng năm để dự phòng. Thí dụ : Năm Hỏa thái quá, bệnh sốt nhiệt nhiều, bệnh viêm nhiễm nhiều... cần tăng cường cách phòng chống nhiệt : ăn nhiều thức ăn mát, ở chỗ thoáng... Bổ các Thủy huyệt...
- Dựa vào màu sắc, khí, vị của thức ăn, mà biết bệnh gì nên ăn hoặc kiêng những gì.
Thí dụ : Thận suy kém, không nên ăn thức ăn quá mặn, vì vị của Thận là vì mặn, mặn quá làm hại Thận. Không uống nước đá vì Nội Kinh ghi : "Thận ố Hàn - Thận ghét lạnh"...
8. Ngũ Hành và Biện Chứng
Dùng Ngũ hành, áp dụng vào từng trường hợp, từng sự việc để tìm ra mối quan hệ gây rối loạn dẫn đến xáo trộn bệnh lý. Công việc này đòi hỏi phải đào sâu vào từng hành, tìm ra những mối quan hệ giữa các rối loạn với các hành như thế nào về phương diện Y học cổ truyền lẫn Y học hiện đại. Nếu nắm được phương pháp lý luận biện chứng, sẽ giúp rất nhiều trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh.

BIỂU ĐỔ TỒNG KẾT QUY LOẠI NGŨ HÀNH
THIÊN NHIÊN
Ngũ hành
Phát triển
Phương
Thời gian
Khí
Vị
Sắc
Tính
Quẻ
Số sinh
Số thành
Mộc
Sinh
Đông
Sáng
Phong
Chua
Xanh
Vặn Vẹo Thẳng
Tốn
3
8
Hỏa
Trưởng
Nam
Trưa
Nhiệt
Đắng
Đỏ
Bốc lên
Ly
2
7
Thổ
Thay đổi
Trung ương
Giữa trưa
Thấp
Ngọt
Vàng
Cấy gặt
Khôn
5
10
Kim
Thu
Tây
Chiều
Táo
Cay
Trắng
Thay đổi
Đoài
4
9
Thủy
Tàng
Bắc
Tối
Hàn
Mặn
Đen
Thấm xuống
Khảm
1
6
CƠ THỂ
Tạng
Phủ
Giác quan
Dư ra
Thể
Chí
Dịch
Biến động
Thanh
Âm
Chức
Cơ năng
Thích
Ghét
Ồ mắt
Ồ lưỡi
Can Mộc
Đởm
Mắt
Móng tay chân
Gân cơ
Giận
Nước mắt
Co quắp
Gọi
Giốc
Tướng quân
Vận động
Tỉnh
Rung động
Tròng đen
Rìa trái
Tâm Hỏa
Tiểu trường
Lưỡi
Tóc
Mạch máu
Mừng
Mồ hôi
Nhăn nhó
Nói
Trủy
Quân chủ
Tuần hoàn
Mát
Nóng nẩy
2 khoé
Đầu lưỡi
Tỳ Thổ
Vị
Miệng
Da
Thịt
Lo
Nước miếng
Ọc
Hát
Cung
Cai kho
Tiêu hóa
Khô ráo
Ẩm ướt
2 mí
Giữa lưỡi
Phế Kim
Đại trường
Mũi
Lông mao
Da
Buồn
Nước mũi
Ho
Than
Thương
Quản trị
Hô hấp
Hoạt nhuận
Khô ráo
Tròng trắng
Rìa lưỡi
Thận thủy
B. quang
Tai
Răng
Xương
Sợ
Nước tiểu
Run
Rên
Vũ
Sức mạnh
Bài tiết
Ôn
Lạnh
Con ngươi
Cuống lưỡi

Friday, April 4, 2014

Cách phòng tránh bệnh tiểu đường

Hiện nay, bệnh tiểu đường chiếm tỉ lệ cao trên thế giới, nghiêm trọng trong xã hội hiện nay được biệt là bệnh tiểu đường type2. Bệnh có thể gây ra nhiều bệnh nguy hiểm hơn đối với mỗi chúng ta. Mặc dù căn bệnh này rất phổ biến nhưng chúng ta nên biết rằng nó hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng lối sống lành mạnh và ăn uống khoa học.
Sau đây là một số phương pháp giúp bạn phòng tránh bệnh tiểu đường:
1. Giảm cân
Giảm trọng lượng cơ thể là cách đơn giản nhất để đưa bạn ra khỏi vòng nguy hiểm của căn bệnh tiểu đường. Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao nhất mắc căn bệnh này. Theo các bác sĩ, ngay cả đối với bệnh tiểu đường type 2, chúng ta cũng có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh bằng cách giảm cân. Điều quan trọng là bạn kiểm soát được lượng calo bổ sung vào cơ thể mỗi ngày và chăm chỉ tập luyện thể thao đều đặn.
2. Ăn nhiều rau xanh
Nếu bạn thường ăn sáng với những đồ ăn nhiều dầu mỡ như bánh mì bơ, phomat bơ, khoai tây chiên… hãy đổi vị bằng món salad mỗi sáng. Bổ sung nhiều rau xanh thường xuyên là cách đơn giản nhất để phòng tránh bệnh tiểu đường. Đây cũng là cách hữu hiệu để giảm thiểu cân nặng, giữ lượng đường trong máu được ổn định.
3. Hạn chế đi xe
Chúng tôi không muốn nói là bạn không được đi xe nữa nhưng hãy hạn chế việc phụ thuộc vào xe quá nhiều mà không vận động bằng cách đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày. Hãy tận dụng mọi lúc mọi nơi để đi bộ như tránh đi thang máy mà thay vào đó hãy đi thang bộ hoặc để xe ở một nơi xa chỗ làm và đi bộ đến đó… Bên cạch việc cắt giảm calo thì tập luyện cũng có thể giúp bạn giảm cân và sử dụng insulin trong cơ thể hiệu quả hơn.

Chăm vận động có thể hạn chế được bệnh tiểu đường. (Ảnh minh họa)
4. Bổ sung ngũ cốc nguyên hạt
Ăn một số loại ngũ cốc nguyên hạt cũng giúp ổn định và kiểm soát được lượng đường trong máu chúng ta. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, bổ sung ngũ cốc nguyên hạt thường xuyên sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2, đột quỵ, huyết áp cao, thậm chí là chống ung thư vú.
5. Làm bạn với cà phê
Bạn có thể không tin nhưng cà phê  lại thực sự giúp bạn tránh được bệnh tiểu đường rất tốt. Một số nghiên cứu cho thấy, cà phê hoặc đúng hơn là caffeine có thể ngăn ngừa bệnh tiểu đường một cách an toàn. Chúng ta nên uống đều đặn 1 ly cà phê mỗi sáng để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh.
6. Bỏ qua thức ăn nhanh
Thức ăn nhanh là cơn ác mộng tồi tệ nhất trong cuộc chiến chống lại bệnh tiểu đường. Vì vậy, bạn nên hạn chế loại đồ ăn này bất cứ lúc nào có thể.
7. Khám bệnh thường xuyên
Cách phòng và chữa trị bệnh dễ dàng nhất là khám bệnh thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Bạn cần phải biết lượng đường trong máu bạn như thế nào, đặc biệt là trong gia đình bạn đã có người bị tiểu đường. Hãy xét nghiệm máu định kỳ và làm theo những lời khuyên của bác sĩ để phòng bệnh tốt nhất.
8. Không uống rượu bia
Uống rượu quá nhiều gây ra chứng bệnh mỡ trong máu cao, chủ yếu cải biến thành triacylglyceride và protein mật độ thấp trong máu. Về mặt lâm sàng chứng minh được, người uống rượu không chỉ làm cho mỡ máu tăng cao mà còn duy trì trong thời gian dài. Đối với những bệnh nhân điều trị bằng insulin uống rượu khi đói bụng dễ gây ra đường máu thấp
9. Gia tăng hoạt động thể lực
- Chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày
- Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong hầu hết các ngày
- Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày.
- Tránh ngồi một chỗ quá lâu khi làm việc, nên nghỉ ngơi 5 phút sau 1 tiếng làm việc
- Đối với phụ nữ, nên hạn chế việc làm vào ban đêm.
10. Có chế độ dinh dưỡng hợp lý
- Ăn đa dạng: nên ăn trên 20 loại thực phẩm mỗi ngày bằng cách ăn các món ăn hỗn hợp, có nhiều món trong một bữa ăn, và món ăn nên thay đổi trong ngày, giữa các ngày, theo mùa…
Nên hạn chế ăn những thức ăn cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo…
- Ăn chừng mực: không ăn bữa nào quá no hay quá đói, không ăn thứ gì quá nhiều.
- Ăn thức ăn nguyên vẹn, gần với thiên nhiên để ít bị mất đi các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn.
- Dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật, lượng bột đường vừa đủ theo nhu cầu hoạt động của cơ thể, tránh dư thừa sẽ dễ làm tăng cân.
- Nên ăn các loại thịt nạc bỏ da, ăn cá nhiều hơn thịt. Ăn thêm các loại đạm thực vật như đậu hũ, các loại đậu khác.
- Nên hạn chế mặn, nếu có cao huyết áp chỉ dùng <1/2 muỗng cà phê muối/ ngày kể cả nêm nếm trong thức ăn.
- Uống sữa để phòng ngừa bệnh tiểu đường.

Sunday, March 30, 2014

Chữa bệnh bằng... tâm lý

Một người bề ngoài trông có vẻ khỏe mạnh, nhưng nếu trong lòng có điều phiền muộn, bất ổn về tâm lý thì không thể xem là có sức khỏe toàn diện. Và yếu tố tâm lý luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe.
Trong quyển sách Nơi không có bác sĩ (Where there is no doctor, ở VN dịch và xuất bản với tựa đề: Chăm sóc sức khỏe), bác sĩ David Werner, tác giả cuốn sách, đã kể lại một trường hợp: "Có lần tôi thấy một bệnh nhân nhức đầu dữ dội. Một phụ nữ đưa cho anh ta miếng khoai mài và bảo rằng đây là thuốc giảm đau rất mạnh. Anh ta tin lời, đã ăn nó và kết quả là khỏi đau nhanh chóng".
Hiệu ứng placebo
Ở đây, yếu tố tâm lý của người bệnh đã được tác động để phát huy tác dụng tích cực của nó. Khi người bệnh được cho dùng một chất nào đó không phải là thuốc, nhưng nếu có sự tin tưởng tuyệt đối đó là thuốc thật, dùng chất đó và khỏi bệnh gọi là "hiệu ứng placebo".
Trong chừng mực nào đó, có thể ghi nhận hiệu ứng placebo để giải thích những vụ việc liên quan đến việc chữa bệnh kỳ lạ mà nhiều người cho rằng khoa học khó có thể giải thích được. Đó là việc dùng nước lạnh, bùa chú, hay bất cứ thứ nào không phải là thuốc, nói chung là dùng những phương tiện, phương cách không theo y học chính thống nhưng có sự tin tưởng vào tác dụng vẫn có thể chữa được bệnh.
"Placebo" có nghĩa là "tôi làm vui lòng", ý nói bác sĩ sẽ tác động đến yếu tố tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh, thầy thuốc thường khai thác tối đa yếu tố tâm lý để giúp quá trình bệnh diễn tiến tốt. Bác sĩ có mối quan hệ tốt với bệnh nhân, cung cách khám chữa bệnh đúng mực, nói năng nhẹ nhàng, thân tình, giải thích rõ ràng cặn kẽ, sẽ giúp bệnh nhân ổn định về mặt tâm lý và giúp việc điều trị bằng thuốc hoặc bằng phương thức trị liệu nào đó đạt kết quả nhanh và tốt hơn.
Trước nay, đã có một số phương thức điều trị không dùng thuốc mà dựa hẳn vào yếu tố tâm lý như thôi miên, tự kỷ ám thị, thiền định... để ổn định tâm lý. Nếu stress đã được chứng minh là có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể thì ngược lại, những biện pháp giúp ổn định tâm lý, sảng khoái về mặt tinh thần sẽ giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể để chống lại bệnh tật. Người ta ghi nhận các rối loạn liên quan đến triệu chứng cơ năng (như bệnh suy nhược thần kinh) rất dễ chữa khỏi bằng các biện pháp tác động đến yếu tố tâm lý.
Biện pháp hỗ trợ
Tuy nhiên, chúng ta nên xem chữa bệnh bằng yếu tố tâm lý chỉ là biện pháp hỗ trợ, chứ không thể thay thế cho tất cả các phương thức trị liệu của nền y học chính thống.
Trong quá trình điều trị bệnh, bác sĩ điều trị có thể cho một thứ thuốc để khai thác hiệu năng placebo. Thí dụ, bệnh nhân bị rối loạn không cần dùng đến thuốc nhưng lại có tâm lý không thể cưỡng là phải được dùng thuốc, bác sĩ có thể cho dùng vitamin để khai thác tác dụng tích cực của yếu tố tâm lý. Và thuốc trong trường hợp này là chất không có tác dụng chữa bệnh thật sự, được gọi là placebo (ở VN thường được dịch là giả dược hoặc "thuốc vờ"). Người bệnh dùng placebo do tin tưởng đó là thuốc chữa bệnh thật và có thể khỏi bệnh.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu để tìm ra và sản xuất một thuốc mới, người ta phải loại bỏ hoàn toàn yếu tố tâm lý trong các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc. Bởi vì, theo định nghĩa, thuốc là những chất có tác dụng thật sự dùng để điều trị, phòng bệnh và chẩn đoán bệnh. Có tác dụng nghĩa là thuốc có tác dụng vật chất vào cơ thể sau khi được bài tiết để đạt hiệu quả chữa bệnh, phòng bệnh, chẩn đoán, chứ không phải chỉ dựa vào tin tưởng nào đó mà khỏi bệnh.
PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC (ĐH Y Dược TP.HCM)

Thursday, March 27, 2014

Tự kỉ ám thị và những điều bạn nên biết!!!!

1 - Khái quát, ám thị
Mỗi năm, ở mọi nơi đều có những/nhiều người trẻ tuổi tự sát. Đơn cử tại Nhật con số này lên đến 30,000 người (bình quân / năm), thật kinh khủng. Ở đây tôi muốn đề cập đến sự ra đi vì nguyên nhân không đâu vào đâu, nói thẳng ra là sa vào những ám ảnh vô hình. Chúng ta, những người trẻ tuổi lọt thỏm trong xã hội này dễ chìm đắm trong rũ rượi buồn chán.
Ám thị là gì? Đây là một động từ dễ dàng được định nghĩa rõ nét nếu như bạn chịu khó đọc vài quyển sách thuộc Tâm lý Học. Nói đơn giản nhất, ám thị là tự mình thôi miên nhằm một mụch đích nào đó. Ví dụ " tôi là con lợn ". Nếu bạn cứ lẩm bẩm trong đầu câu nói này, biết đâu bạn sẽ có ngày ăn cám thiệt, đó là thành công, chúc mừng. Ám thị rất tốt cho việc chữa bệnh. Đã có trường hợp bị ung thư vô phương cứu chữa, nhờ người bệnh được nhà Tâm lý học hướng dẫn, ngày ngày anh ta tự nhủ " tôi mạnh khỏe " và đã bình thường trở lại. Khó tin, nhưng là sự thật. Về mặt hình thức thì chuyện này hao hao cách chữa bệnh nan y bằng động tác vẫy tay theo Dịch cân kinh. Vì cả hai đều rất Khoa học.
Trong lúc tiến hành ám thị, nhất định bạn phải hoàn toàn thảnh thơi. " Tôi mạnh khỏe " mà đang ở trong ... bệnh viện hoặc nhà xác thì nói gì nữa ? Muốn viết cảm nhận gì đó, chẳng phải bạn nghe đi nghe lại nhiều lần, trong đầu luôn xuất hiện những ý nghĩ liên quan đến, và viết trong lúc đắm say đó sao ?
Trở lại vấn đề nêu ra ở đầu bài. Các bác sĩ đã thử nghiệm và đã giúp một số người thoát khỏi bế tắc bằng cách (tự) ám thị. Tất nhiên không phải là toàn bộ những kẻ có ý tưởng tự sát đều có thể gượng dậy, cái đáng ghi nhận là nỗ lực phi thường của bác sĩ, trong đó lại có cả nỗ lực mỗi cá nhân.
2 - Tự Kỷ
a- Định nghĩa: Là một trạng thái thể hiện ở sự hướng nội thái quá. Nghĩa là quan tâm đến những vấn đề bên trong của mình: cảm xúc, tư duy, nhận thức quay xung quanh bản thân mà không chú ý tới ngoại cảnh.
b- Triệu chứng:
Không có khả năng giao tiếp,gương mặt ít bộc lộ cảm xúc, không hiểu được cảm xúc của người khác, không có khả năng chú ý tới bên ngoài. Có thể có một số khả năng đặc biệt: Nhớ các con số, tính toán rất nhanh, thậm chí có thể nhẩm ra căn bậc 2 của 1 số trong chưa đầy vài s... Rất nguyên tắc trong hành vi và tư duy: hay nói lặp cùng một câu, đi cùng một con đường, hành vi không thích hợp với ngoại cảnh...
c- Nguyên nhân:
Cho đến nay, chưa có 1 nguyên nhân được coi là nguồn gốc chính xác của căn bệnh. Có 1 số giả thuyết:
- Do thể trạng nhân cách nhạy cảm (liên quan đến hạnh nhân)----> sống khép mình ---->tự kỷ - Do di truyền (gen) - Do cấu trúc khiếm khuyết của bộ não - Do sự bất thường của các dẫn chất thần kinh trong não - Phát dục quá sớm: Liên quan đến hàm lượng testoteron quá cao từ nhỏ ----> não phát triển gần như người trưởng thành ở tuổi nhỏ --->đặc biệt phát triển một số vùng não và làm vô hiệu những vùng khác chẳng hạn như thuỳ trán--->thiếu khả năng giao tiếp XH
d- Điều trị: Tuỳ theo nguyên nhân mà điều trị. Tuy nhiên, liệu pháp tâm lý có hiệu quả cao
3 - Một số hội chứng liên quan đến tự kỷ
Hội chứng Rett
Hội chứng này rất hiếm thấy và chỉ có ở trẻ gái. Đây gần như một dạng rối loạn kiểu tự kỷ trong một đứa trẻ thiểu năng nặng. Nửa năm đầu đời trẻ phát triển có vẻ bình thường nhưng sau đó dần mất đi khả năng sử dụng hai bàn tay để nắm giữ và thao tác với các đồ vật. Các triệu chứng thường gặp là trẻ đi không vững, xương sống ngày càng bị vẹo, làm các động tác lặp lại như vặn hai bàn tay vào nhau hoặc là vỗ tay, thường thở gấp, nuốt không khí và nghiến răng. Ngoài ra trẻ còn có khó khăn về học tập, chậm hoặc không phát triển ngôn ngữ. nhưng đặc biệt là ở chỗ đến một lúc nào đó trẻ hết các chứng tật và biết đáp ứng về giao tiếp xã hội tuy các nét đặc thù khác của hội chứng này thì vẫn còn.
Hội chứng Asperger (AS)
Đặc điểm chính của những người mắc hội chứng AS là có khuyết tật nhẹ nói chung, chỉ số thông minh và khả năng thích ứng cao hơn và mức chậm phát triển nhẹ hơn người tự kỷ. Tuy nhiên về giao tiếp xã hội họ cũng có khiếm khuyết nặng. Họ chỉ hiểu theo nghĩa đen và không hiểu nhưng ngụ ý, ẩn ý, nghĩa bóng của câu nói, cử chỉ, thái đọ của người khác. Họ luôn làm theo quy tắc và áp dụng nó một cách máy móc trong bất cứ trường hợp nào.
Những người này còn có sở thích rất hẹp, chỉ gồm một hay vài mặt. Chẳng hạn như họ có thể nhớ chính xác lịch trình của xe buýt, ngày tháng trong năm, đặc biệt là những con vật lớn như cá voi, khủng long... mà thường là qua các phương tiện thông tin đại chúng chứ không phải do giao tiếp với những người xung quanh. Khi nói chuyện họ thường lái câu chuyện sang vấn đề mà họ thích bất kể người đối diện có thích hay không. Chính họ cũng không biết tại sao mình lại thích những thứ như vậy. Những người này có khả năng làm việc và sống độc lập.
Hội chứng dị tật X
Đây là dị tật di truyền do nhiễm sắc thể X không bình thường, đa số là ở các trẻ nam. Những người này có một số nét dị dạng như tai to mặt dài ở những mức độ khác nhau. Khác với tự kỷ, các khó khăn về giao tiếp xã hội của họ không phải do thờ ơ mà do họ nhút nhát, sợ hãi và không thích người khác chạm tay vào mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cũng có những biểu hiện giống như tự kỷ : khó khăn về học tập, rập khuôn về vận động, tránh tiếp xúc bằng mắt. Ngoài ra, các trẻ nhỏ mắc hội chứng này thường tăng động giảm chú ý. Hội chứng Landan-Kneffner
Hội chứng này rất hiếm, lúc đầu trẻ phát triển bình thường chỉ hơi chậm biết nói, được phát hiện ra ở giai đoạn từ 3 đến 7 tuổi. Nhiều trẻ có những biểu hiện của tự kỷ như tránh ánh mắt nhìn, có sự dập khuôn, không thích sự thay đổi. Dùng những kỹ thuật soi chụp đặc biệt có thể phát hiện ra mẫu hình của điện não đồ ở dạng không bình thường một cách điển hình. Có thể phẫu thuật não để chữa hội chứng này, đã có kết quả ở một số trẻ nhỏ.
4 - người nghe Rock " mắc bệnh "
A - Asperger và những kẻ hời hợt ích kỷ
Từ bài trên, ta có thể thấy những ai bị Asperger là có IQ và AQ (chỉ số mạnh mẽ, vượt khó, đương đầu với XH) cao nhưng EQ (chỉ số cảm xúc, nhân cách) lại thấp. Mô tả họ như sau: rất giỏi, rất thông minh, khá hấp dẫn, nhưng mau nhàm chán. Bởi khi đối thoại với mình, họ chỉ biết nói về thứ họ thích, họ không quan tâm đến người đối diện.
Asperger dễ dẫn đến tự mình khép chặt vào vòng cô đơn. Dù họ không phải là mù quáng.
B - Tự kỷ và những kẻ ngây ngô
Thường những người này sống hướng nội, nội tâm phong phú, ít khi để ý và chịu tác động ngoại cảnh.
Rất dễ hiểu, để tôi nêu một ví dụ: ngồi nghe nhạc vẻ mặt khờ dại hẳn ra, không biêt đến và cũng không cần biết đến quanh mình là ai, nhạc đang mở cái gì? Họ mà đã viết bài thì cực hay, bởi lòng họ khác gì dòng sông cuồn cuộn sóng. Nhưng nếu bạn muốn chia sẻ tâm sự (như là reply) thì hãy từ bỏ ngay ý định đó. Họ chỉ muốn đau khổ với lòng, không tiếp thu đâu. Điểm khác biệt giữa Asperger với tự kỷ nói chung là, Asperger có khả năng làm chủ mình tốt, tức là tỉnh táo.
Trường hợp này sẽ mất tự chủ, cũng quá dễ sa vào cô đơn.
5 - Hội chứng lan truyền tâm lý, hiện tượng Verter
Định nghĩa: Hội chứng lan truyền tâm lý tức sự lây lan rối loạn tâm thần, quẫn trí vv... giữa con người với nhau. Verter là hội chứng lan truyền tâm lý muốn tự sát khi chứng kiến - đọc/nghe một vụ tự sát nào đó. Những nỗi đau của chàng Verter trẻ tuổi, tác phẩm của đại thi hào Đức Goethe, cuối truyện này Verter tự sát bằng súng vì thất tình. Sau khi đọc truyện này rất nhiều người đã bắt chước Verter, vì vậy người ta gọi sự bắt chước tự sát là hiện tượng Verter.
Lan truyền tâm lý thường xảy ra ở những người tâm lý yếu, thần kinh không ổn định. Nhất là khi cùng quẫn mà biết đến một hình thức nào đó tiêu cực để giải thoát (ví dụ tự sát).
6 - Lan truyền tâm lý trong giới trẻ nghe Rock
Có sự lan truyền tâm lý trong chúng ta - những kẻ nghe Rock - hay không
Một nhóm nhạc nào đó được giới thiệu trên các forum " hay lắm, tìm nghe đi ", thì chắc là nhiều người sẽ tìm nghe, chuyện này quá bình thường và tích cực. Tuy nhiên tôi muốn nói đến trường hợp nghe không thấy hay nhưng vẫn cố mình ám thị là " cũng hay ". Rõ ràng là có. Đó chỉ là chuyện vặt vãnh, lan truyền tâm lý thì phải ở mức độ lớn và nguy hiểm.
Ở Việt Nam, trong giới nghe Rock với nhau chưa hề có trường hợp nào sự suy nhược lan truyền mạnh mẽ trong một quần thể. Doom Metal có lẽ là thứ nhạc ảm đạm nhất của Rock nhưng nó vẫn chưa gây ra làn sóng bế tắc trong chúng ta. Ngoài lề một chút, ca khúc Gloomy Sunday được nói như là ca khúc khiến người ta tự sát (tức Verter). Thật ra thì chỉ là trò cười mà thôi.
Tóm lại, thật đáng mừng và đáng buồn là chưa có Hiện tượng lây truyền tâm lý ở những kẻ nghe Rock tại Việt Nam.
7 - Hai mặt của Tự kỷ ám thị
Việc tự kỷ ám thị như tôi có nói ở đầu bài là tự thôi miên mình. Từ đó suy ra nó sẽ có hai tác dụng, tiêu cực hoặc tích cực, tùy vào ta.
Vấn đề này chắc không cần nói thêm làm gì. Trong bài viết này tôi chỉ muốn đề cập đến mặt tích cực và những trường hợp việc Tự kỷ ám thị (Tự kỷ ám thị) trở nên vô dụng.
8 - Hãy tự cứu mình
Bác sĩ Victor Pauchet người Pháp có nói một câu rất hay : " chúng ta đều có thể tự kỷ ám thị để chữa bệnh ". Và tôi cũng tin điều này có căn cứ.
Đó là niềm tin. Bạn chú ý là Tôn giáo cũng là niềm tin. Cho dù niềm tin đó đôi khi hết sức mù quáng. Và nên nho81 cho Tự kỷ ám thị không phải là Thiền (Zen).
Suy ra, tất cả trường hợp bế tắc đều chữa được bằng Tự kỷ ám thị. Nhưng cũng chính vì dùng phương pháp Tự kỷ ám thị mà bạn phải có niềm tin lớn. Bạn cần mạnh mẽ lên nhiều. Asperger thì cần tin vào người khác. Còn tự kỷ (có nói trên) rối loạn nội tâm cần phải tin vào một lối đi, sự giải thoát, cứu rỗi.
Khổ nỗi, cái gì cũng có ngoại lệ. Vì vậy mà lắm khi ta khó(chứ không phải là vô phương) tỉnh ngộ dù đã cố Tự kỷ ám thị.
TOBIAS MORROW (MY OPERA)

Tuesday, March 25, 2014

CÁCH NHẬN DIỆN "CHIÊM TINH GIA" vs. "THẦY BÓI"


Điều đáng buồn phổ biến hiện nay đó là nhiều người quan niệm SAI LẦM rằng "chiêm tinh gia" (= "người xem chiêm tinh / tử vi") cũng giống như các "thầy bói" - là người có những hoạt động "bói toán" mang tính chất "mê tín". Sự "u mê" của người Việt Nam không phải không có căn cứ. Tại sao như vậy ? Đó là vì xu hướng tự nhiên của con người: vì họ sẽ tin vào những gì họ "nghe", những gì họ "thấy" và "trải nghiệm", để rồi khi thông tin thấy được thường xuyên và lập lại lâu ngày, nó sẽ đúc kết thành một thứ "quan niệm" đi sâu vào tiềm thức. Khi vào một tiệm sách hay vào một website trên mạng, người ta thường thấy các tựa đề "tạp nham hổ lốn" khác được trình bày lẫn lộn vào với "Chiêm Tinh" (hay "Tử Vi") như: "bói toán", "bói tình yêu", "bói bài", "bói bài tarot", "xin xâm", "mai hoa dịch số", "quẻ dịch" / "chu dịch" / "kinh dịch" / "bói dịch" (i-ching), "phong thủy" (geomancy), "chỉ tay" (palmistry), "tướng số", "thần số học" (numerology) ... và cả "bùa chú", "ngải", "ma quỷ" v.v....
Thật ra, "chiêm tinh/tử vi" và "bói toán" là 2 lãnh vực hoàn toàn KHÁC NHAU, và tôi xin trình bày dưới đây để giúp các bạn đọc phân biệt rõ ràng:
- "Bói toán" (divination) là những thủ thuật để tìm kiếm thông tin về tương lai/hiện tại/quá khứ của bạn bằng những phương thức mang tính chất "NGẪU NHIÊN" (random) mà người ta thường gọi là "gieo quẻ" (casting): xào và xòe những lá "bài Tây", rút ra và sắp xếp những lá "bài Tarot" theo những mẫu hình nhất định (= 1 quẻ), thảy 2 miếng gỗ hoặc bó đũa để "xin xăm", hay dùng những vật thể (đồng tiền)/tiếng động/thời gian/không gian (v.v...) để tạo ra 2 trong 64 quẻ Dịch: "thượng quẻ"/"hạ quẻ" và "dụng thần", từ đó suy luận "cát hung" (tốt xấu). Đây là những phương pháp "bói toán" lâu đời và phổ biến nhất ở Việt Nam. Trong nghiên cứu của tôi, tôi còn từng gặp những người dùng các phương pháp "kinh dị" khác như: "bẻ cành cây", "ngắt cánh hoa" (yêu tui, không yêu tui), "đốt nhang nhìn khói" (số đề), "sờ mai rùa" (hơ lửa + xem vết nứt), "thảy các viên sỏi", "nhìn vào lá trà sắp xếp trong đáy ly", hoặc "tàn nhẫn" hơn là "cắt tiết gà" ... để nhằm mục đích dự đoán "tương lai", và tất cả những phương pháp này cũng đều thuộc nhóm "bói toán", vì chúng đều dựa vào chung một nguyên lý "ngẫu nhiên" - sự "rung động" của luồng năng lượng "âm/dương" luôn sẵn có của vũ trụ. Như vậy, những người sử dụng những thủ thuật "bói toán" nói trên đều gọi chung là "THẦY BÓI".
- "Xem chỉ tay" (palmistry), "Xem tướng số", "Xem chữ ký" (handwriting) là những môn khoa học chuyên môn trong ngành "Nhân Trắc Học" (Anthropometry) dùng để xem và nhận dạng tính cách của con người qua những đặc trưng vật lý (physical features) thể hiện trên cơ thể con người qua "chỉ tay", "tướng mạo" và "chữ viết". Ngoài ra, chúng cũng có khả năng hé lộ một số thông tin về tương lai. Người "xem tướng số" thật thụ còn có khả năng nhìn ra "màu sắc" / hào quang (aura) trên từng khu vực xem tướng của đối tượng, nhất là vùng đầu, để từ đó suy ra vận mệnh "xấu tốt" cho người được xem. Những người sử dụng các kiến thức của "Nhân Trắc Học" nói trên thì gọi chung là "THẦY TƯỚNG".
- Những môn KHOA HỌC khác mà nhiều người cũng thường lầm tưởng chung với "bói toán" đó là "Thần Số Học" (numerology) và "Nhịp Sinh Học" (biorythm). "Thần Số Học" là môn nghiên cứu về các ý nghĩa và hình tượng của các con số, cụ thể là từ số 1 đến số 9, số 11, 22, 33 (master numbers), sự tương ứng của chúng qua 26 mẫu tự Latin từ A đến Z, và sự liên quan của chúng đến vận mệnh con người. "Nhịp Sinh Học" mà tôi thấy xuất hiện trên một số website của Việt Nam là một môn khoa học cổ đại dựa trên 3 chu kỳ đơn giản lên/xuống kiểu hình "sine" của mỗi con người tính từ lúc mới sinh ra: Thể Lực (physical) - 23 ngày, Cảm Xúc (emotional) - 28 ngày và Trí Tuệ (intellectual) - 33 ngày. Sự lên/xuống thay đổi giữa 3 chu kỳ này sẽ gây tác động "mệt mỏi", "làm biếng", "hưng phấn", "xúc động", "khô khan", "thông minh" hay "ngu dốt" cho một ngày nào đó tùy theo bạn đang ở đâu giữa 3 chu kỳ.
- "Bùa", "Chú" và "Ngải" là những thủ thuật huyền bí (black magic/occult) ngày nay thường bị lạm dụng thành những thứ "tà đạo" bởi những "thầy bùa", "phù thủy", "đạo sĩ" THIẾU ĐẠO ĐỨC và thường gây HẠI nhiều hơn LỢI cho con người. "Bùa" là những ký tự với nét vẽ bằng "mực Tàu" ngoằn ngèo trên giấy, có thể xếp lại hoặc để nguyên, và được "trấn" hay "yểm" (đặt để/nhét/treo/dán) vào những nơi "có vấn đề". "Chú" là những câu "thần chú" / "mệnh lệnh" đọc ra bằng miệng và có thể điều khiển những lực lượng vô hình (thần linh, ma quỷ) để thực hiện mục đích mà người đọc "chú" mong muốn. "Ngải" là những cây cỏ (thường là phần củ/rễ) có "linh hồn", được người "nuôi ngải" nuôi dưỡng để chúng phát triển những năng lực vô hình "có lợi" cho người "nuôi ngải" đó. Cả 3 thứ "bùa", "chú", "ngải" đều rất NGUY HIỂM vì nguyên lý hoạt động chung của chúng đều là "vay mượn", hay "gom góp" tất cả những "MAY MẮN" từ "tương lai" của người dùng để đem về "hiện tại" mà "xài" hay sử dụng ngay tức khắc để "gỡ xui". Vì thế, chúng ta thấy có nhiều người đang "xui xẻo" bỗng dưng được "may mắn" một cách kỳ lạ và "lên đời" liên tục trong thời gian dài. Nhiều người số phận đang "tình cảm bất trắc" cô đơn bỗng có "người yêu" đeo bám liên tục ... Nhưng đến một ngày nào đó, khi "may mắn" của "tương lai" đó đã xài hết rồi, người dùng "bùa/chú/ngải" ấy sẽ bị "vật" - hay bị "xui xẻo/đen đủi" liên tục đến "tận mạng" vì đơn giản là họ không còn sự "may mắn" nào còn lại để "chống đỡ" cái "xấu" trên con đường "nghiệp" (karma) của họ nữa ! Như vậy, những người sử dụng các thủ thuật huyền bí này cho các khách hàng của họ gọi là "THẦY BÙA" (nếu dùng "bùa" và "chú") hoặc "THẦY NGẢI" (nếu dùng "ngải"), hay "THẦY PHÁP" (cả "bùa", "chú" lẫn "ngải") nói chung.
- "Âm Binh" là những linh hồn của người quá cố, có thể được một số "thầy bói" / "thầy tướng" / "thầy bùa" thờ phượng và vận dụng để "nhờ" mách bảo cho các "thầy" đó biết những thông tin "gián điệp" về "thân chủ" (người đến nhờ xem bói), nhằm tăng "uy tín" về khả năng "thần thông" của "ông thầy" đó. Tôi biết nhiều "Thầy Bói" còn kiêm thêm nghề "Lên Đồng" - thực chất là kêu gọi "Âm Bính" của họ (chứ không phải linh hồn thân quyến của gia chủ) để cung cấp thông tin quan trọng nào đó cho khách hàng của họ. Thực tế, đây là lỗ hổng tâm linh mà rất nhiều người giả mạo để lừa đảo người khác, nhất là ở Việt Nam. "Âm Binh" khi TU HÀNH (tích "đức") đến một mức nào đó CAO hơn bình thường khá nhiều + chuyên sâu vô một lãnh vực nào đó thì người Việt chúng ta gọi là "Tổ", "Ông" hay "Bà". Có rất nhiều "Tổ": nào là "Tổ Bói Toán", "Tổ Cải Lương", "Tổ Xem Tướng", "Tổ Xem Bài Tarot", "Tổ Đánh Cá" v.v... Nhiều người không sử dụng "Âm Binh" mà là "thờ Tổ" để mong sự giúp đỡ của các vị ấy trong lãnh vực chuyên môn mà họ hành nghề, và những người "thờ Tổ" thường có ĐẠO ĐỨC hơn những người sử dụng "Âm Binh". Cao hơn "Tổ" / "Ông" / "Bà" thì có "Thần", rồi mới đến "Thánh" hay "Phật" - là những cấp bật cao nhất (dĩ nhiên là còn cấp cao hơn nữa mà tôi không muốn bàn luận ở đây). Cũng "Âm Binh" nhưng nếu không tu hành mà trở nên phá phách người còn sống thì gọi là "Quỷ". Những người tinh thông những quyền thuật tâm linh liên quan mọi cấp bậc, từ thấp nhất là "Âm Binh" cho đến cao nhất là "Phật" thì gọi là "PHÁP SƯ" hay "ĐẠO SĨ". Những "PHÁP SƯ" / "ĐẠO SĨ" thực thụ có khả năng "trị" cả những "THẦY PHÁP" hại người, "vô hiệu hóa" mọi "pháp thuật tà đạo" mà sử dụng trên người khác. Đây là những người sống âm thầm và hiếm khi xuất hiện trong xã hội. Còn người "giả mạo" để "xưng hùm xưng bá" thì ... "đầy" !
- Trở lại chủ đề chính mà tôi muốn nói ở đây, "Chiêm Tinh" và "Tử Vi" là những môn nghiên cứu về các chu kỳ thiên văn để từ đó suy ra những XU HƯỚNG trong vận mệnh và cuộc sống con người. Các chu kỳ thiên văn biết được là do sự quan sát thực tiễn trên bầu trời và đối chiếu với hình thể, tính cách, sức khỏe ... cho đến những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của người đó. Con người sinh ra từ cát bụi, và sẽ trở về với cát bụi, cũng như LINH HỒN của con người đến từ vũ trụ, và cũng sẽ trở về với vũ trụ. Vì sinh ra từ vũ trụ, linh hồn chính là một dạng "năng lượng", và như bao nhiêu loại "năng lượng" khác mà chúng ta đã biết, linh hồn cũng chịu ảnh hưởng mật thiết bởi các chu kỳ thiên văn - gồm có sự chuyển động tuần hoàn của các hành tinh trong Thái Dương Hệ và các vì sao xa xôi (qua các chòm sao luân chuyển trên bầu trời). "Chiêm Tinh" và "Tử Vi" theo dõi sít sao và ghi nhận những chu kỳ tuần hoàn này để tiên đoán số mệnh của con người - gồm có "quá khứ", "hiện tại", "tương lai" và cả "trước khi sinh ra" và "sau khi chết". Do không dựa trên sự "ngẫu nhiên" mà chỉ là quan sát các chu kỳ "tuần hoàn", vì thế, "Chiêm Tinh" và "Tử Vi" KHÔNG PHẢI LÀ "BÓI TOÁN" như mọi người lầm nghĩ. Không phải. Hoàn toàn là không. "Xin lỗi, chịu không nổi" ! ...
- Ngoài ra, có sự khác biệt "nho nhỏ" giữa "Chiêm Tinh" và "Tử Vi". "Chiêm Tinh" dựa trên mô hình lấy các hành tinh làm trọng tâm, và sự di chuyển của chúng trên nền của các vì sao - gồm 12 chòm sao Hoàng Đạo, và các hằng tinh (fixed stars). Trong khi đó "Tử Vi" chú trọng vào 2 yếu tố: "góc xoay" (rotation) của bầu trời (nhất là "Tử Vi Viên" gồm các vì sao gần khu vực sao Bắc Cực) và các vì sao khác so với mặt đất (đường chân trời) + một số chu kỳ giao hội (gặp nhau) tương quan giữa các hành tinh, Mặt Trăng, Mặt Trời và bầu trời nói chung.
- Quan trọng hơn tất cả, sự khác biệt LỚN và CĂN BẢN mà nhiều người KHÔNG BIẾT giữa "Chiêm Tinh"/"Tử Vi" và các môn "Bói Toán"/"Nhân Trắc Học", đó là, các môn "Bói Toán" chỉ xem đúng ở TƯƠNG LAI "GẦN" - tối đa là 3 tháng. Trong khi đó, "Chiêm Tinh"/"Tử Vi" có thể cho thấy bức tranh tổng thể của TOÀN BỘ cuộc đời, từ "quá khứ" cho đến "tương lai" của một con người, từ "vận" gần nhất đến "vận" xa nhất. Ngoài ra, những gì do "Bói Toán"/"Nhân Trắc Học" tiên đoán đều có thể bị THAY ĐỔI sau 2-3 tháng, nhưng những tiên đoán do "Chiêm Tinh"/"Tử Vi" sẽ luôn luôn đúng cho đến hết cuộc đời. Nói cách khác, các chỉ tay + tướng số của một người luôn thay đổi sau một thời gian, tùy theo "vận mệnh" họ đang "đi tới đâu". Mà "vận mệnh" thì chỉ có thể "thấy" được bằng "Chiêm Tinh" / "Tử Vi".
- Ngay cả "Phong Thủy" cũng vậy, nhiều người cũng lầm tưởng và không biết SỰ THẬT: "Phong Thủy" không thể thay đổi "Vận Mệnh" (Chiêm Tinh/Tử Vi), nhưng "Vận Mệnh" có thể thay đổi cả "Phong Thủy". Ví dụ, một người tiêu tốn biết bao nhiêu tiền để "phong thủy" mình được "tốt", nhưng khi "số mệnh" người đó đến "vận xui" thì ngay cả "phong thủy" cũng chẳng giúp ích được gì ! Ngược lại, một người nhà cửa lung tung bừa bộn, nhưng khi "số mệnh" người đó đến hồi "thăng lên" thì tự nhiên sẽ trở nên sạch sẽ, có thể có "người hầu kẻ hạ" và đương nhiên mọi vật dụng trong nhà được sắp xếp gọn gàng đúng như "phong thủy". Nói như vậy không có nghĩa là "phong thủy" hoàn toàn "vô dụng" mà nó chỉ đóng vai trò "hỗ trợ" / "giúp ích", chứ không định đoạt "vận mệnh" của người đó. Hãy nhìn bao nhiêu đình đài dinh thự nguy nga của các vua chúa ngày xưa - họ đều xây đúng "phong thủy" đấy, nhưng có ai tồn tại đến ngày nay ?!
Trong từ điển tiếng Anh có 3 từ về chiêm tinh được phân biệt rõ ràng:
"Chiêm Tinh Gia" (astrologer): là người có tâm huyết, kỹ năng và kinh nghiệm để hướng dẫn những người có "niềm tin" về nghệ thuật và khoa học của chiêm tinh, cũng như những người có đầu óc cởi mở để tìm hiểu và học hỏi nhiều hơn về "chiêm tinh" và những gì KHÔNG PHẢI "chiêm tinh". Phần lớn họ có thể nói, ghi âm, ghi hình, nói chuyện qua điện thoại hay gặp gỡ mặt đối mặt với khách hàng, và trong những dịp hiếm hoi, họ có thể tự tay đánh máy hay viết xuống những gì họ bàn luận và dự đoán để gởi cho khách hàng. Những chiêm tinh gia chuyên nghiệp sẽ không bao giờ gởi hay email cho khách hàng bất kỳ mọi DIỄN DỊCH hay dự đoán "bói toán" nào do một chương trình vi tính soạn sẵn, in ra mang tính "công nghiệp" và hoàn toàn không được viết riêng cho người đó.
"Chiêm Tinh Sư" (astrologian): là người tự viết sách (chứ không phải "dịch sách") để hướng dẫn, dạy dỗ và đào tạo các "chiêm tinh gia".
"Chiêm Tinh Sĩ" (astrologist): là người có kinh nghiệm thực tiễn phong phú và đúng đắn về chiêm tinh, có niềm tin và lập luận chắc chắn về nghệ thuật cũng như khoa học trong mọi lý thuyết của chiêm tinh
NGƯỜI XEM CHIÊM TINH/TỬ VI CHO BẠN CÓ THỂ LÀ "BỌN GIẢ MẠO" nếu họ có những hành vi và biểu hiện sau đây:
1) Họ KHÔNG bao giờ hỏi tại sao bạn muốn nhờ họ xem lá số cho mình.
- Thông thường, chiêm tinh gia càng hỏi thăm bạn để biết trước những băn khoăn và tình cảnh của bạn, thì việc xem lá số sẽ càng có kết quả tốt hơn. Chiêm tinh gia "thật" chỉ mong muốn giúp bạn, chứ không phải họ muốn gây "ấn tượng" hay "kinh ngạc" cho bạn bằng những "lời phán" mang tính chất "xanh rờn" hay "hù dọa".
2) Họ KHÔNG hỏi kỹ ngày giờ sinh chính xác của bạn, nhất là GIỜ SINH. Họ nhanh nhẩu đồng ý xem những lá số mà khách hàng chỉ nhớ giờ sinh là "lúc mặt trời mọc" hay "khoảng giữa trưa".
- Hầu hết những chiêm tinh gia thực thụ sẽ TỪ CHỐI xem lá số cho bạn nếu ngày giờ sinh của bạn không được rõ ràng hay chính xác, bởi vì họ thà từ chối mất một thương vụ hơn là cố gắng nói sâu vào những thông tin hay chi tiết mà thật sự không phải là của bạn. Một số chiêm tinh gia có khả năng và dịch vụ "tìm giờ sinh" bằng cách đối chiếu những sự kiện lớn trong cuộc sống của bạn. Tuy nhiên, có rất HIẾM những chiêm tinh gia hành nghề có khả năng "tìm giờ" lại muốn làm việc này, đơn giản là vì nó rất tốn "thời gian" - vì thế sẽ phát sinh chi phí rất cao cho khách hàng.
3) Họ đề nghị sử dụng những môn "bói toán" khác mà không phải chiêm tinh/tử vi (như tarot, phong thủy, bói bài tây, thần số học, quẻ hoa mai độn giáp, kinh dịch v.v...) để dự đoán "thêm" và "đầy đủ hơn" cho bạn.
- Đây là 1 biểu hiện rõ ràng nhất họ là "đồ giả" !
4) Họ muốn xem chỉ tay, hay yêu cầu ở bạn những thứ không liên quan đến "chiêm tinh", như "thôi miên" bạn, muốn bạn đầu tư tiền bạc vào dự án nào đó của họ, bảo bạn mua đủ thứ lễ vật để "cúng sao giải hạn" cho bạn, hay cố gắng thuyết phục bạn quá mức để bạn bị ép phải tham gia vào một lớp học hay "chương trình đặc biệt" nào đó của họ (dĩ nhiên là có trả phí).
5) Họ khẳng định họ có thể giúp bạn hàn gắn lại với người yêu, hay nói cho bạn biết ai sẽ là người yêu kế tiếp của bạn.
6) Họ hứa hẹn họ có thể giải quyết MỌI vấn đề cho bạn.
- Sự thật là chẳng ai có thể giải quyết vấn đề dùm cho bạn, mà chỉ có BẠN mới có thể làm được điều này.
7) Họ đề nghị bạn cần phải "cầu vong" / "lên đồng" để hỏi thăm người khuất mày khuất mặt.
8) Họ tìm cách bán những thứ như mã não, đá quý, tượng ngọc, dầu thơm, nến thơm, vitamins, đồ phong thủy, đồ trấn yểm, "ngải tình yêu", "bùa may mắn" hay những thứ đắt tiền khác v.v... mà họ cho rằng bạn sẽ cần để cải thiện cuộc sống, giải quyết vấn đề của bạn, hay để "trung hòa" năng lượng/linh hồn/nghiệp chướng gì đó của bạn.
9) Bạn cảm thấy như mục đích của họ là muốn bạn phải tùy thuộc vào họ cho mọi quyết định của bạn.
- Điều họ lo nhất chính là mục đích kiếm TIỀN cho việc kinh doanh của HỌ, chứ không phải là họ đang giúp bạn.
10) Họ đề nghị bạn làm cái gì đó - nhất là những việc liên quan đến TIỀN - mà bạn cũng thừa sức tự biết là vô lý hay ngu xuẩn.
11) Họ có vẻ săm soi quá nhiều vào cuộc sống riêng tư hay công việc của bạn.
12) Họ có vẻ đang "truyền giáo" cho bạn, cưỡng ép bạn PHẢI TIN vào cái gì đó mà bạn biết là không đúng hay không có lợi cho bạn.
13) Họ có vẻ trở nên nóng nảy nếu bạn không tuân theo "hướng dẫn" của họ như ý họ mong muốn.
...
Đọc đến đây, câu hỏi cuối cùng và quan trọng nhất đó là: "Liệu những chiêm tinh gia mà bạn đã gặp trước đây và hiện tại, trên mạng hay mặt-đối-mặt giống với những điều tôi nói ở trên như thế nào ?" Họ là thứ "vàng thật" hay "vàng giả" ? Chỉ có bạn mới là người đánh giá chính xác nhất. [CCT]
P.S. Tôi là một "chiêm tinh sĩ", nên bản thân tôi rất khó chịu khi một người nào đó dùng những từ ngữ của "bói toán" và nói với tôi rằng "Thầy ơi, bói cho tôi một quẻ !" .... Haizzz. Sau bài này, hy vọng nhiều bạn đọc hiểu được nỗi bức xúc của tôi.


DANH MỤC THUỐC NAM GIA TRUYỀN 
*Thuốc  chữa gout
Giảm đau cấp và đào thải axit Uric ra khỏi cơ thể.không gây biến dạng khớp

*Viên tiểu đường
Trị bệnh tiểu đường và các chứng đau nhức, tê mỏi, lung lay răng. Hạn chế các biến chứng và tăng tuổi thọ người bị bệnh tiểu đường.

*Sỏi hoàn tán:
Tán nhỏ các loại sỏi thận,sỏi mật, sỏi bàng quang đi theo đường tiều, hết sỏi, khỏi tiểu buốt,tiểu dắt,tiểu mầu, viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu,tiền liệt tuyến

*Chỉ thống hoàn
Bổ thận tráng dương,tăng cường sinh lực,tan máu bầm, máu đông,tiêu tỳ thông kinh hoạt lạc, tạo chất nhờn giữa xương khớp và đĩa đệm,ngừng chỉ hết đau nhức tê mỏi,gân xương cơ nhục và phủ tạng.

*Tỳ vị hoàn
Chuyên trị đau dạ dày, đau bụng, đầy hơi sống phân, ỉa chảy, kiết lị,ăn không tiêu,cấp mãn tính.

*Ha sa tam thất hoàn:
Bổ thận cố tinh,tăng cường sinh lực mạnh,thông kinh hoạt lạc, sinh hoạt thoải mái


Mọi chi tiết vui lòng liên hệ chị Nho số 6 ngõ 371/2/14 Kim Mã Hà Nội.01649215420

Friday, March 7, 2014

Thuốc đặc trị chữa gout!!!

Hiện tại trên thị trường đã có rất nhiều loại thuốc chữa bệnh  gút nhưng phần lớn đều có tác dụng phụ và không đáp ứng được nhu cầu đào thải và cắt dứt cơn đau khớp cấp tính.Sau nhiều năm nghiên cứu gia truyền để lại tận dụng các vị thuốc nam sẵn có chúng tôi đã cho ra đời thuốc chữa bệnh gút hoàn toàn bằng nam dược mà không gây độc hại

Thuốc bột mịn trắng được gia truyền nhiều đời để lại.Thuốc dùng không ảnh bệnh khác.Cái hay một loại thuốc trị tốt cả 2 bệnh.

  * Gồm 2 bệnh:
    1.GÚT( THỐNG PHONG)
    2.VIÊM THẤP KHỚP, PHONG THẤP MÃN TÍNH
   
    * CÁCH DÙNG:
    1.Liệu trình khoảng 3-5 gói.Mỗi gói chia đều thành 10 phần bằng nhau,mỗi phần được gọi là 01 đơn vị thuốc.
    * Cách dùng thuốc:
    Ngâm cho thuốc tan dần trong miệng và nuốt từ từ, không nên uống bằng cách chiêu nước sẽ kém công hiệu.
    3 ngày đầu mỗi ngày ngậm 02 lần,mỗi lần ngậm 01 đơn vị thuốc vào trước bữa ăn.Những ngày sau ngậm 01 đơn vị thuốc, không cần thiết dùng ngay hết cả liều trình tuỳ thuộc mức độ nặng nhẹ của mỗi người. Khi dứt bệnh hết đau, số thuốc còn lại để vào lọ, để nơi khô ráo, để điều chỉnh về sau này những người bệnh Gút và Khớp,giai đoạn nào ăn uống,liên hoan nhiều, hay thay đổi thời tiết thì ngậm phòng 01 đơn vị thuốc thì bệnh không tái phát lại.
    * GHI CHÚ:
    Trong thời gian sử dụng thuốc không nên dùng kháng sinh lẫn nên uống nhiều sữa chua và ăn nhiều hoa quả (cam chanh v.v..).
    Không nhất thiết phải ăn kiên quá phức tạp, vẫn có thể được uống bia, rượu ở mức độ ít. Người nào bị bệnh Gút nên ăn tươi vài bữa cho bệnh phát lại dùng thuốc này đặc trị luôn.
    Trẻ em dưới 16, người già cao tuổi dùng liều bằng nửa người lớn.
    Thuốc này không có tác dụng điều trị trong các trường hợp đau do bị kéo cơ, giãn cơ,sưng tấy do va đập tai nạn,những người viêm cầu thận nặng không nên dùng.Thời gian dùng thuốc ăn khỏe hơn.
    Thời gian đoạn thuốc đang thẩm thấu, một số ít người có thể hơi bị mệt và nấc nhẹ,không nên lo lắng, một vài tiếng sau sẽ hết và trở lại bình thường
Những trường hợp huyết áp thấp thì nên ngậm thuốc sau bữa ăn.
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ 0437711562_01649215420 gặp chị Nho
Lưu ý quí khách hàng hiện nay có rất nhiều cơ sở cũng mạo danh bán thuốc như chúng tôi,nhưng chất lượng thuốc thì tôi khẳng định là không thể bằng được và đã có nhiều người vmua phải thuốc rởm dẫn đến phản ứng phụ như mẩn ngứa rộp lưỡi.Xin quí khách hàng hết sức lưu lý